Nghề nuôi ong không ngòi đốt ở Đông Nam Á không phải chuyện mới. Malaysia gọi là kelulut, Thái Lan gọi là chan-rong, Indonesia gọi là klanceng hoặc lanceng. Việt Nam gọi là ong dú, và đi sau các nước kia một quãng khá xa về quy mô.
So sánh không phải để tự ti, mà vì khoảng cách đó chỉ ra khá rõ nghề ở Việt Nam sẽ đi tiếp theo hướng nào.
Bức tranh chung bốn nước
| Nước | Mức độ nghề | Đặc điểm nổi bật |
|---|---|---|
| Malaysia | Công nghiệp hoá cao | Trại hàng nghìn tổ, thùng chuẩn hoá, có nghiên cứu và chuỗi phân phối |
| Thái Lan | Có tổ chức tốt | Kết hợp mạnh với vườn cây ăn trái, dùng ong để thụ phấn là chính |
| Indonesia | Rộng nhưng phân tán | Nhiều loài bản địa, nghề rải khắp các đảo, quy mô hộ là chính |
| Việt Nam | Đang định hình | Chủ yếu hộ gia đình và trại nhỏ, thùng mỗi nơi một kiểu, giá mật cao |
Khác biệt về loài nuôi
Đây là điểm hay bị bỏ qua khi người Việt xem video nước ngoài rồi bắt chước. Loài nuôi phổ biến ở Malaysia và Thái Lan không hoàn toàn trùng với loài phổ biến ở Việt Nam. Kích thước tổ khác, tốc độ tích mật khác, tính khí đàn cũng khác.
Hệ quả rất thực tế: kích thước thùng trong video Malaysia không nhất thiết hợp với đàn ở Việt Nam. Thùng quá rộng so với sức đàn là một trong những lỗi phổ biến của người mới học qua video nước ngoài — đàn không đủ sức phủ hết không gian, tổ dễ bị thiên địch vào.
Khác biệt về mục tiêu nuôi
Ở Thái Lan, nhiều trại nuôi ong dú chủ yếu để thụ phấn cho vườn, mật chỉ là sản phẩm phụ. Cách tính hiệu quả của họ vì thế là tính trên năng suất cây trồng chứ không phải trên lít mật.
Ở Việt Nam hiện nay ngược lại: phần lớn người nuôi tính bằng mật và bằng tổ giống. Giá mật ong dú trong nước cao, cầu vượt cung, nên chưa có động lực chuyển hướng. Nhưng khi số người nuôi tăng lên và giá mật hạ dần, mô hình thụ phấn của Thái Lan là hướng đi khá chắc chắn.
Khác biệt về chuẩn hoá
Malaysia đã có kiểu thùng phổ biến gần như thống nhất, có tài liệu kỹ thuật, có nghiên cứu về thành phần mật. Việt Nam thì mỗi vùng một kiểu thùng, kích thước chênh nhau nhiều, cách gọi tên loài cũng chưa thống nhất giữa các nhóm người nuôi.
Chưa chuẩn hoá có cái dở là khó trao đổi kinh nghiệm, khó mua bán phụ kiện. Nhưng cũng có cái được: người nuôi Việt Nam đang thử rất nhiều biến thể, và một số biến thể hợp với điều kiện địa phương hơn hẳn thùng ngoại nhập.
Giá mật: Việt Nam đang cao
Mật ong dú ở Việt Nam có giá cao hơn nhiều so với mặt bằng khu vực, do sản lượng thấp và người mua coi đây là hàng hiếm dùng cho sức khoẻ. Ở Malaysia, khi sản lượng lên cao và nguồn cung ổn định, giá đã hạ xuống mức hàng hoá thông thường hơn.
Đây là chỉ dấu đáng để người tính chuyện làm trại lưu ý: bài toán kinh tế dựa trên giá mật hiện tại có thể không giữ nguyên trong năm hay mười năm nữa. Người làm dài hạn thường tính thêm nguồn thu từ tổ giống, dịch vụ thụ phấn và sản phẩm chế biến.
Học được gì từ họ
- Kỹ thuật tách đàn và thiết kế thùng của Malaysia rất đáng học, nhưng phải điều chỉnh kích thước cho loài mình nuôi.
- Mô hình thụ phấn của Thái Lan là hướng mở rộng thị trường mà Việt Nam gần như chưa khai thác.
- Cách Indonesia giữ đa dạng loài bản địa đáng tham khảo, vì Việt Nam cũng có nhiều loài mà người nuôi chưa phân biệt rõ.
- Bài học về giá: nước nào sản lượng lên thì giá xuống. Đừng xây kế hoạch dài hạn trên mức giá của giai đoạn khan hiếm.
Câu hỏi thường gặp
Kelulut có phải là ong dú không?
Kelulut là tên gọi trong tiếng Malaysia cho nhóm ong không ngòi đốt, cùng nhóm với ong dú Việt Nam. Tuy nhiên loài cụ thể được nuôi phổ biến ở Malaysia không hoàn toàn trùng với loài phổ biến ở Việt Nam, nên kích thước tổ và cách nuôi có khác biệt.
Có nên làm thùng nuôi theo video Malaysia không?
Học nguyên tắc thì nên, sao chép nguyên kích thước thì không. Loài nuôi ở Malaysia thường cho đàn lớn hơn, nên thùng của họ rộng hơn. Áp nguyên kích thước đó cho đàn nhỏ hơn ở Việt Nam dễ dẫn tới thùng quá rộng, đàn không phủ hết, thiên địch dễ vào.
Vì sao mật ong dú ở Việt Nam đắt hơn các nước trong khu vực?
Chủ yếu do sản lượng trong nước còn thấp trong khi nhu cầu cao, và người mua xem đây là sản phẩm hiếm dùng cho sức khoẻ. Ở nước có sản lượng lớn và nguồn cung ổn định như Malaysia, giá đã hạ về mức hàng hoá thông thường hơn.
Nuôi ong dú để thụ phấn có phổ biến ở Việt Nam không?
Chưa phổ biến bằng các nước như Thái Lan, nơi nhiều trại nuôi chủ yếu để thụ phấn cho vườn cây ăn trái và coi mật là sản phẩm phụ. Ở Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn tính hiệu quả theo mật và tổ giống, nhưng hướng thụ phấn đang được chú ý dần.
Việt Nam có bao nhiêu loài ong dú?
Việt Nam có nhiều loài ong không ngòi đốt bản địa thuộc các chi khác nhau, phân bố theo vùng và khác nhau về kích thước, màu sắc, tốc độ tích mật. Người nuôi trong nước phần lớn chưa phân biệt rõ tên khoa học mà gọi theo tên địa phương, nên hay có nhầm lẫn khi trao đổi kinh nghiệm.